Cai Lậy

Cai Lậy ban đầu chỉ là tên một giồng cát nằm ở ấp Hữu Hòa (ngày nay thuộc phường 1, thị xã Cai Lậy) do ông Cai cơ Ngô Tấn Lễ chỉ huy khai khẩn. Cai cơ Ngô Tấn Lễ là tướng của chúa Nguyễn Ánh, dưới quyền Võ Tánh. Từ Cai Lễ nói trại thành Cai Lậy. Chợ Cai Lậy được lập từ cuối thế kỷ XVIII.

Cai Lậy

Cai Lậy là một thị xã nằm ở phía tây tỉnh Tiền Giang, Việt Nam.

Huyện Cai Lậy

Huyện Cai Lậy còn lại 29.599,37 ha diện tích tự nhiên và 186.583 nhân khẩu; có 16 đơn vị hành chính cấp xã, gồm các xã Thạnh Lộc, Mỹ Thành Bắc, Phú Cường, Mỹ Thành Nam, Phú Nhuận, Bình Phú, Cẩm Sơn, Phú An, Mỹ Long, Long Tiên, Hiệp Đức, Long Trung, Hội Xuân, Tân Phong, Tam Bình và Ngũ Hiệp.

Cai Lậy

Cai Lậy ban đầu chỉ là tên một giồng cát nằm ở ấp Hữu Hòa (ngày nay thuộc phường 1, thị xã Cai Lậy) do ông Cai cơ Ngô Tấn Lễ chỉ huy khai khẩn. Cai cơ Ngô Tấn Lễ là tướng của chúa Nguyễn Ánh, dưới quyền Võ Tánh. Từ Cai Lễ nói trại thành Cai Lậy. Chợ Cai Lậy được lập từ cuối thế kỷ XVIII.

Du lịch Cai Lậy

Lênh đênh trên sông nước miền Tây

Ngược dòng lịch sử Trận Ấp Bắc - Trận đánh diễn ra vào ngày 2 tháng 1 năm 1963

Ngược dòng lịch sử Trận Ấp Bắc - Trận đánh diễn ra vào ngày 2 tháng 1 năm 1963

Trận Ấp Bắc là một trận quy mô lớn diễn ra vào giai đoạn đầu của cuộc chiến tranh giữa Việt Nam và Hoa Kỳ với kết quả là chiến thắng lớn đầu tiên của quân vũ trang Mặt trận Dân tộc Giải phóng miền Nam Việt Nam (phía Hoa Kỳ và Việt Nam Cộng hòa gọi là Việt Cộng) đối với quân chính quy của Quân lực Việt Nam Cộng hòa được cố vấn Mỹ chỉ huy. Trận này diễn ra vào ngày 2 tháng 1 năm 1963, gần Ấp Bắc thuộc tỉnh Mỹ Tho lúc bấy giờ (ngày nay là tỉnh Tiền Giang), cách Sài Gòn 65 km về phía tây nam.

Hoàn cảnh trận Ấp Bắc

Những cuộc giao tranh nhỏ, phát triển trong chiến tranh Việt Nam, đã bắt đầu cuối những năm 1954 với chiến dịch chống cộng của Ngô Đình Diệm. Vào thời điểm đó, Việt Nam Dân chủ Cộng hòa đã mong muốn cuộc tổng tuyển cử theo Hiệp định Genève, sẽ thống nhất 2 miền Nam Bắc. Điều này bị phá bỏ do viện trợ của Mỹ vào miền Nam ngày càng lớn, và chính sách tránh giao tranh bằng mọi giá. Về mặt này, Diệm đã rất thành công khi giữ cho quân đội của ông ta không hành động, và những cuộc giao tranh quy mô nhỏ bùng nổ khắp miền Nam. Việt Nam Dân chủ Cộng hòa lo lắng về sự can thiệp của Mỹ và từ chối mọi sự viện trợ quân sự, họ yêu cầu những đơn vị Việt Minh miền Nam rút về những miền thôn quê và rừng núi. Thế bí tăng lên, khi quân đội Việt Nam Cộng hòa mất rất nhiều thời gian để tìm tới các khu vực này, nên quân du kích có đủ thời gian để phục kích và rút lui.

Lực lượng

Quân lực Việt Nam Cộng hòa đã huy động một lực lượng gồm một tiểu đoàn bộ binh của Sư đoàn 7 và 2 tiểu đoàn bảo an, 1 chi đoàn thiết giáp (13 xe thiết giáp M113) và 3 đại đội bộ binh (trong đó có 2 đại đội làm lực lượng dự bị); khoảng 8 máy bay ném bom, 20 trực thăng đổ quân và vũ trang, 11 máy bay quan sát và vận tải, 13 tàu xuồng các loại và khoảng 1 tiểu đoàn pháo binh chi viện. Tổng cộng gần 1.800 quân do cố vấn Mĩ chỉ huy.

Quân Giải phóng miền Nam Việt Nam có 2 đại đội bộ binh và khoảng 30 du kích Ấp Bắc. Hầu hết quân số chỉ trang bị súng trường và lựu đạn, vũ khí cỡ lớn duy nhất là 1 khẩu súng cối 60mm làm hoả lực chi viện.

Diễn biến trận Ấp Bắc

Quân Giải phóng áp dụng nguyên tắc không bắn máy bay trinh sát và chờ xem điều gì sẽ xảy ra tiếp theo. Lần lượt ba chiếc trực thăng chiến đấu xuất hiện, bắt đầu bắn súng máy và rốc két. Chờ trực thăng tới gần, Quân Giải phóng khai hỏa hàng loạt súng tự động và súng trường từ kênh tưới. Bằng cách đánh phục kích này, đến trưa họ loại khỏi vòng chiến đấu 5 chiếc trực thăng.

Các toán quân của Sư đoàn 7 Việt Nam Cộng hòa tiến vào ấp từ phía bắc đã không quay lại để cứu đại đội dự phòng và các tổ lái trực thăng. Đến 12 giờ 15, cuối cùng tiểu đoàn Sài Gòn đến Tân Thới. Rồi trước 13 giờ những chiếc xe thiết giáp M113 tiến lại dần dần trên đồng ruộng. Quân Giải phóng không có vũ khí chống tăng nên không thể chiến đấu chống xe bọc thép M-113 có hiệu quả. Để truyền cho các toán quân can đảm đứng lên chống xe bọc thép với vũ khí nhẹ và lựu đạn, các chỉ huy của Quân Giải phóng đã lên một bản danh sách những điểm yếu của xe bọc thép: người bắn súng máy trên đỉnh đứng sau giá súng để lộ từ thắt lưng trở lên, hoặc có thể bắn trúng lái xe qua khe ngắm, những chiến sĩ dũng cảm thì có thể tiếp cận rồi ném lựu đạn lên nóc xe. Các chỉ huy cũng đã truyền thụ cho chiến sĩ tập trung bắn vào M113 như đã bắn máy bay. Mỗi tiểu đội hoặc trung đội phải chọn chiếc xe gần nhất rồi bắn tập trung vào đấy, không để hỏa lực bị phân tán.

Sau một ngày chiến đấu, với 5 đợt tấn công bằng những phương pháp tác chiến "tân kì" nhất như thiết xa vậntrực thăng vận, bủa lưới phóng lao... từ nhiều hướng, kể cả đổ bộ đường không bằng nhảy dù, song quân đội VNCH đều bị đẩy lùi. Kết quả trong trận này quân VNCH có 83 người thiệt mạng trên tổng số gần 200 lính thương vong, 3 cố vấn Mỹ bị giết và 16 cố vấn, phi công Mỹ bị thương. Phía Quân Giải phóng có 18 người chết.

Lúc 22 giờ cùng ngày, quân Giải phóng theo hàng dọc rút về hướng căn cứ Đồng Tháp Mười. Dân quân địa phương và nông dân Ấp Bắc, Tân Thới đã hỗ trợ họ trong suốt cuộc chiến cũng đi theo một con đường khác về chỗ trú ẩn trong những rừng dừa lân cận. Đi đầu là các toán quân chủ lực của Tiểu đoàn 261 đã chống cự ở Ấp Bắc. Quân địa phương của Tiểu đoàn 514 đi đoạn hậu với một trung đội bảo vệ phía sau. Hàng quân tiếp tục đi đến một chỗ lội qua sông, tiến lên không bị phát hiện và về đến trại đóng quân ở xã Hưng Thạnh (huyện Châu Thành) lúc 7 giờ sáng.

Nhà báo Neil Sheehan viết: "Họ đã làm được nhiều hơn việc thắng một trận, mang về một thắng lợi theo kiểu Việt Nam cũng như tổ tiên họ đã làm từ nhiều thế kỷ. Họ đã chiến thắng quân địch mạnh hơn họ... 350 "Việt cộng" đã giữ vững trận địa và hạ nhục một quân đội hiện đại với quân số lớn gấp bốn lần, trang bị xe bọc thép, trọng pháo, trực thăng và máy bay ném bom. Để đối chọi, vũ khí mạnh nhất của họ là một khẩu súng cối nhỏ, cỡ 60 ly, được xem là vô dụng. Họ có 18 người chết và 39 bị thương, thiệt hại tương đối nhẹ trong cuộc chiến mà người Mỹ và những người Việt Nam do họ bảo vệ đã dội vào nhiều nghìn loạt đạn súng thường và súng máy hạng nặng, 600 đạn súng cốinapalm và bom cùng những quà tặng khác chở trên 13 máy bay và năm trực thăng chiến đấu. Riêng những chiếc Huey đã trút xuống hàng cây Ấp Bắc 8400 viên đạn súng máy và một trăm rốc két. Với vũ khí hạng nhẹ, Việt cộng đã gây gấp bốn lần thiệt hại cho họ, giết được khoảng 80 lính Sài Gòn, làm bị thương hơn 100; ba người Mỹ chết và 8 người khác bị thương, 5 chiếc trực thăng bị bắn hạ. Việt cộng gây ra những tổn thất ấy mà tiết kiệm đạn dược. Từ những loạt đạn đầu bắn nhau với quân bảo an cho đến những loạt cuối cùng với lính dù, họ chỉ dùng khoảng 5000 đạn súng thường và súng máy."

Cố vấn Mỹ John Paul Vann thì nhận xét sau trận đánh: "Họ [quân Giải phóng] thật dũng cảm, họ đã cho chúng ta một hình ảnh đẹp về bản thân họ ngày hôm nay".

Sách "Từ điển bách khoa về chiến tranh Việt Nam" của Mỹ đã ca ngợi quân Giải phóng ở Ấp Bắc là “những chiến sĩ có quyết tâm cao và được huấn luyện tốt”, trong khi đánh giá quân VNCH là “bất tài, hỗn loạn và hèn nhát”

Thất bại của Mĩ và quân lực Việt Nam Cộng hòa trong trận này không chỉ là một thất bại thuần tuý về chiến thuật mà còn mang ý nghĩa chiến lược, đã làm rung chuyển giới báo chí Mĩ, làm cho nhân dân Mĩ quan tâm hơn đến cuộc chiến tranh Việt Nam. Chiến thắng của QGP tại Ấp Bắc đã đánh dấu sự thất bại của chiến lược Chiến tranh đặc biệt của Mỹ tại miền Nam Việt Nam.

Nguồn: wikipedia

trận ấp bắc 1963


Di tích Chiến thắng Ấp Bắc Cai Lậy - Tiền Giang

Di tích Chiến thắng Ấp Bắc Cai Lậy - Tiền Giang

Di tích Chiến thắng Ấp Bắc được Bộ Văn hóa - Thông tin (nay là Bộ Văn hóa - Thể thao và Du lịch) công nhận là di tích cấp Quốc gia năm 1993. Khu di tích tọa lạc tại xã Tân Phú, thị xã Cai Lậy, tỉnh Tiền Giang.

Đây là nơi diễn ra trận đánh lớn nhất miền Nam kể từ sau Hiệp định Giơ-ne-vơ vào ngày 2-1-1963, báo hiệu sự sụp đổ của chiến lược "Chiến tranh đặc biệt" mà Mỹ áp dụng trong chiến tranh xâm lược Việt Nam.

Do thất bại nặng nề trong trận đánh, giặc cho pháo và máy bay ném bom vào trận địa Ấp Bắc, làm cháy nhiều nhà dân. Mặc dù vậy, các mẹ, các chị vẫn nấu cơm tiếp tế cho bộ đội. Từ đấy đã vang lên những câu ca dao ca ngợi tấm lòng của người dân Ấp Bắc:

"Bom rơi thì mặc bom rơi
Chị em Ấp Bắc vẫn khơi bếp hồng
Thổi nồi cơm dẻo thơm nồng
Giúp anh bộ đội no lòng đánh hăng"

      Đến với khu di tích, du khách sẽ được đi trong quần thể rộng lớn với 2 phân khu chức năng. Khu vực 1 gồm có tượng đài, nhà mộ 3 chiến sĩ gang thép, 3 hồ sen lớn, nhà trưng bày xe tăng, máy bay, công viên với nhiều loại cây kiểng.

       Khu vực 2 gồm có nhà trưng bày hiện vật, phía dưới là hồ sen, bên trái là quảng trường và công viên được trồng cây cảnh; phía sau là những mô hình được phục chế tái hiện cảnh dân quân tải thương, nấu cơm, trảng xê, hầm bí mật. Xa xa ngoài cánh đồng rộng lớn là những biểu tượng máy bay, xe tăng địch bị bốc cháy.

       Ngày 2-1 hàng năm, Đảng bộ, chính quyền và nhân dân địa phương long trọng tổ chức lễ kỷ niệm tại khu di tích này.

Di tích Chiến thắng Ấp Bắc Cai Lậy - Tiền Giang


Lịch sử hình thành huyện Cai Lậy, Tiền Giang

Lịch sử hình thành huyện Cai Lậy, Tiền Giang

Cai Lậy ban đầu chỉ là tên một giồng cát nằm ở ấp Hữu Hòa (ngày nay thuộc phường 1, thị xã Cai Lậy) do ông Cai cơ Ngô Tấn Lễ chỉ huy khai khẩn. Cai cơ Ngô Tấn Lễ là tướng của chúa Nguyễn Ánh, dưới quyền Võ Tánh. Từ Cai Lễ nói trại thành Cai Lậy. Chợ Cai Lậy được lập từ cuối thế kỷ XVIII.

Nguồn gốc địa danh Cai Lậy

Ban đầu, địa danh Cai Lậy chỉ là tên một ngôi chợ tại thôn Thanh Sơn (sau này là làng Thanh Sơn) thuộc tỉnh Định Tường và sau đó là tỉnh Mỹ Tho. Sau này, thực dân Pháp thành lập quận và đặt tên là quận Cai Lậy do lấy theo tên gọi Cai Lậy vốn là nơi đặt quận lỵ.

Lịch sử hình thành

Thời phong kiến:

Cuối thế kỷ XVII, vùng đất Cai Lậy ngày nay thuộc châu Định Viễn, dinh Long Hồ. Thời các chúa Nguyễn, vùng đất này thuộc dinh Trấn Định, rồi trấn Định Tường và tỉnh Định Tường về sau. Năm 1808, dưới triều vua Gia Long, vùng đất này được đặt tên là tổng Kiến Lợi rồi sau đó đổi tên là tổng Kiến Đăng.

Năm 1836, tổng Kiến Đăng được đổi thành huyện Kiến Đăng thuộc phủ Kiến An, tỉnh Định Tường. Huyện lỵ đầu tiên đóng tại thôn Mỹ Đức Đông (Cái Thia - Cái Bè), có 2 tổng: Kiến Lợi (nay thuộc vùng Cai Lậy) và Kiến Phong (nay thuộc các vùng Cái Bè, Cao Lãnh). Năm Minh Mạng thứ 19 (1838), dời huyện lỵ đến thôn Mỹ Trang (nay thuộc khu vực trung tâm thị xã Cai Lậy), tu sửa lại thành cũ.

Năm 1836, huyện Kiến Đăng có 5 tổng: Lợi Trinh 19 thôn, Lợi Trường 22 thôn, Phong Hòa 11 thôn, Phong Phú 17 thôn, Phong Thạnh 11 thôn. Năm 1833, ba tổng Phong Hòa, Phong Phú, Phong Thạnh đưa về Kiến Đăng phân huyện. Đến năm 1838, lại cắt ba tổng Phong Hòa, Phong Phú và Phong Thạnh chia làm 4 tổng Phong Hòa, Phong Phú, Phong Thạnh và Phong Nẫm, rồi Kiến Đăng phân huyện đổi thành huyện Kiến Phong, lập thêm phủ Kiến Tường (đóng tại Cao Lãnh) gồm 2 huyện Kiến Phong (do Kiến Tường kiêm trị) và Kiến Đăng.

Thời Pháp thuộc:

Với Hòa ước Nhâm Tuất (1862), triều đình Huế nhượng hẳn 3 tỉnh miền Đông Nam Kỳ (Gia Định, Biên Hòa và Định Tường) cho thực dân Pháp làm thuộc địa. Chính quyền thực dân Pháp chia 3 tỉnh này thành 13 thành các hạt thanh tra (inspection), do các viên chức Pháp ngạch thanh tra các công việc bản xứ (inspecteur des affaires indigeânes) đứng đầu, nhưng tạm thời vẫn giữ cơ cấu phủ huyện cũ.

Ngày 3 tháng 6 năm 1865, huyện Kiến Đăng đổi thành Hạt Thanh tra Kiến Đăng. Trụ sở hạt Thanh tra Kiến Đăng đặt tại Cai Lậy. Lúc đầu, hạt Thanh tra tạm gọi tên theo tên các phủ huyện cũ, sau mới đổi tên gọi theo địa điểm đóng trụ sở.

Ngày 16 tháng 8 năm 1867, thực dân Pháp thành lập Hạt Thanh tra Cai Lậy do đổi tên từ hạt Thanh tra Kiến Đăng trước đó. Ngày 5 tháng 12 năm 1868, Hạt Thanh tra Cai Lậy bị giải thể, sáp nhập địa bàn vào hạt Thanh tra Mỹ Tho kể từ ngày 15 tháng 12 năm 1868. Ngày 20 tháng 10 năm 1869, Hạt Thanh tra Cai Lậy được lập lại. Ngày 8 tháng 9 năm 1870, vì lý do an ninh nên dời trụ sở tới chợ Cái Bè nên lại đổi tên gọi là hạt Thanh tra Cái Bè. Ngày 5 tháng 6 năm 1871, Hạt thanh tra Cái Bè giải thể, nhập địa bàn vào hạt Thanh tra Mỹ Tho.

Năm 1904, thực dân Pháp lập quận Cai Lậy thuộc tỉnh Mỹ Tho, gồm có 6 tổng: Lợi Trường (12 làng) Lợi Mỹ (8 làng) Lợi Trinh (15 làng); Lợi Thuận (16 làng); Phong Hòa (11 làng); Phong Phú (10 làng). Tuy nhiên thống kê năm 1902 thì tổng Lợi Trường có 15 làng. Quận lỵ Cai Lậy ban đầu thuộc làng Thanh Sơn (tổng Lợi Trinh), vốn là nơi đặt chợ Cai Lậy. Tuy nhiên, sau này thực dân Pháp hợp nhất hai làng Thanh Sơn và Hòa Sơn thành một làng mới, lấy tên là Thanh Hòa. Kể từ đó, quận lỵ Cai Lậy thuộc địa bàn làng Thanh Hòa.

Ngày 12 tháng 03 năm 1912, tách 3 tổng Lợi Thuận, Phong Hoà, Phong Phú thành lập quận Cái Bè.

Thực dân Pháp chủ trương tiết kiệm ngân sách nên từ năm 1905 đến năm 1933 đã có nhiều lần sáp nhập các đơn vị hành chánh cơ sở (làng), do vậy, vào năm 1945, nếu so sánh với giai đoạn trước thì tổng số làng trong tỉnh Mỹ Tho nói chung và quận Cai Lậy nói riêng đã giảm.

Việt Nam Cộng hòa:

Sau năm 1956, chính quyền Việt Nam Cộng hòa đặt quận Cai Lậy thuộc tỉnh Định Tường, các làng gọi là xã. Ngày 09 tháng 08 năm 1961, quận Cai Lậy đổi tên thành quận Khiêm Ích, đồng thời chuyển tổng Lợi Thuận (gồm 5 xã: Hội Sơn, Xuân Sơn, Phú An, Hiệp Đức và Mỹ Thành) qua quận Sùng Hiếu, tức quận Cái Bè trước đó. Ngày 10 tháng 11 năm 1964, quận lấy lại tên cũ Cai Lậy. Sau năm 1965, các tổng đều bị giải thể. Quận lỵ Cai Lậy đặt tại xã Thanh Hòa.

Kể từ đó cho tới năm 1975, quận Cai Lậy thuộc tỉnh Định Tường do chính quyền Việt Nam Cộng hòa sắp xếp hành chính có 20 xã trực thuộc quận gồm: Bình Phú, Cẩm Sơn, Long Khánh, Long Tiên, Long Trung, Mỹ Hạnh Đông, Mỹ Hạnh Trung, Mỹ Long, Mỹ Phước Tây, Ngũ Hiệp, Nhị Mỹ, Mỹ Quý, Phú Nhuận Đông, Phú Quý, Tam Bình, Tân Bình, Tân Hội, Tân Phú Đông, Thạnh Hòa, Thạnh Phú.

Ngày 12 tháng 7 năm 1974, chính quyền Việt Nam Cộng hòa lập quận mới có tên là quận Hậu Mỹ thuộc tỉnh Định Tường. Lúc này, xã Thạnh Phú thuộc quận Cai Lậy được giao về cho quận Hậu Mỹ quản lý.

Chính quyền Cách mạng:

Về phía chính quyền Cách mạng, địa giới hành chính của huyện Cai Lậy thuộc tỉnh Mỹ Tho trong giai đoạn 1956-1975 vẫn được duy trì ổn định, không thay đổi như trước năm 1956. Trong đó các xã Hội Sơn, Mỹ Thành, Phú An, Xuân Sơn, Hiệp Đức vẫn do huyện Cai Lậy quản lý (chính quyền Việt Nam Cộng hòa đặt các xã này thuộc quận Cái Bè, tỉnh Định Tường).

Bên cạnh đó, chính quyền Cách mạng cũng chia xã Mỹ Thành thành hai xã là Mỹ Thành Bắc và Mỹ Thành Nam. Năm 1967, huyện Cai Lậy nhận thêm xã Tân Phong từ huyện Chợ Lách, tỉnh Bến Tre (chính quyền Việt Nam Cộng hòa vẫn đặt xã Tân Phong thuộc quận Chợ Lách, tỉnh Vĩnh Long cho đến năm 1975).

Năm 1971, huyện Cai Lậy chia thành hai huyện là Cai Lậy Bắc và Cai Lậy Nam thuộc tỉnh Mỹ Tho. Đến năm 1975, hợp nhất lại thành huyện Cai Lậy như cũ:

Huyện Cai Lậy Bắc gồm 14 xã: Mỹ Thành Bắc, Mỹ Thành Nam, Bình Phú, Phú Nhuận, Thạnh Phú, Thạnh Hòa, Nhị Mỹ, Nhị Quý, Tân Hội, Tân Phú Đông, Tân Bình, Mỹ Hạnh Đông, Mỹ Hạnh Trung, Mỹ Phước Tây;

Huyện Cai Lậy Nam gồm 13 xã: Phú Quý, Long Khánh, Cẩm Sơn, Phú An, Mỹ Long, Long Tiên, Hiệp Đức, Long Trung, Hội Sơn, Xuân Sơn, Tân Phong, Tam Bình, Ngũ Hiệp.

Sau ngày 30 tháng 04 năm 1975, chính quyền quân quản Cộng hòa miền Nam Việt Nam ban đầu vẫn đặt huyện Cai Lậy thuộc tỉnh Mỹ Tho như trước cho đến đầu năm 1976. Huyện lỵ là thị trấn Cai Lậy, được thành lập do tách đất từ các xã Nhị Mỹ và Thanh Hòa. Đồng thời, xã Tân Hòa Tây trực thuộc huyện Cai Lậy cũng được thành lập do tách đất từ các xã Mỹ Hạnh Đông và Mỹ Phước Tây của huyện Cai Lậy hợp nhất một phần đất đai tách từ xã Tân Bình thuộc quận Kiến Bình, tỉnh Kiến Tường trước đó.

Từ năm 1976 đến nay:

Tháng 3 năm 1976, Cai Lậy là huyện của tỉnh Tiền Giang cho đến ngày nay, với huyện lỵ là thị trấn Cai Lậy. Huyện Cai Lậy ban đầu gồm 29 đơn vị hành chính là các xã: Bình Phú, Cẩm Sơn, Hiệp Đức, Hội Sơn, Long Khánh, Long Tiên, Long Trung, Mỹ Hạnh Đông, Mỹ Hạnh Trung, Mỹ Long, Mỹ Phước Tây, Mỹ Thành Bắc, Mỹ Thành Nam, Ngũ Hiệp, Nhị Mỹ, Nhị Quý, Phú An, Phú Nhuận, Phú Quý, Tam Bình, Tân Bình, Tân Hòa Tây, Tân Hội, Tân Phong, Tân Phú, Thanh Hòa, Thạnh Phú, Xuân Sơn và thị trấn Cai Lậy.

Ngày 12 tháng 4 năm 1979, Hội đồng Chính phủ ban hành Quyết định số 152-CP về việc chia một số xã thuộc huyện Cai Lậy, tỉnh Tiền Giang như sau: chia xã Thạnh Phú thành hai xã lấy tên là xã Thạnh Lộc và xã Phú Cường, hợp nhất xã Hội Sơn và xã Xuân Sơn thành một xã lấy tên là xã Hội Xuân.

Ngày 11 tháng 07 năm 1994, Chính phủ Việt Nam ban hành Nghị định số 68-CP, theo đó tách một phần diện tích và dân số của huyện Cai Lậy hợp với một phần diện tích và dân số của huyện Châu Thành để thành lập huyện Tân Phước thuộc tỉnh Tiền Giang. Lúc này, xã Tân Hòa Tây được giao về cho huyện Tân Phước quản lý. Sau khi nhập vào huyện Tân Phước, xã Tân Hòa Tây được chia thành ba xã mới là Tân Hòa Tây, Thạnh Hòa và Thạnh Tân. Đặc biệt, từ năm 1994 đến nay, địa bàn hai xã Thạnh Hòa và Thạnh Tân nằm trong một phần đất đai xã Tân Bình thuộc quận Kiến Bình, tỉnh Kiến Tường trước năm 1975; riêng địa bàn xã Tân Hòa Tây sau khi chia tách thì vẫn nằm trong phần đất đai thuộc quận Cai Lậy, tỉnh Định Tường (phía chính quyền Cách mạng lúc bấy giờ gọi là huyện Cai Lậy thuộc tỉnh Mỹ Tho) như trước năm 1975.

Sau khi thành lập huyện Tân Phước, huyện Cai Lậy còn lại diện tích tự nhiên 40.893,66 ha; nhân khẩu 314.243; gồm 28 đơn vị hành chính là các xã Ngũ Hiệp, Tam Bình, Tân Phong, Long Trung, Hội Xuân, Hiệp Đức, Long Tiên, Mỹ Long, Phú Quý, Long Khánh, Cẩm Sơn, Phú An, Nhị Quý, Nhị Mỹ, Thanh Hoà, Bình Phú, Phú Nhuận, Tân Bình, Tân Hội, Tân Phú, Mỹ Hạnh Trung, Mỹ Hạnh Đông, Mỹ Phước Tây, Phú Cường, Thạnh Lộc, Mỹ Thành Bắc, Mỹ Thành Nam và thị trấn Cai Lậy.

Ngày 26 tháng 12 năm 2013, Chính phủ Việt Nam ban hành Nghị quyết số 130/NQ-CP về việc điều chỉnh địa giới hành chính huyện Cai Lậy để thành lập thị xã Cai Lậy và huyện Cai Lậy còn lại. Theo đó, thành lập thị xã Cai Lậy thuộc tỉnh Tiền Giang trên cơ sở điều chỉnh 14.018,95 ha diện tích tự nhiên và 123.775 nhân khẩu của huyện Cai Lậy, bao gồm toàn bộ diện tích tự nhiên và nhân khẩu của thị trấn Cai Lậy và các xã Mỹ Phước Tây, Mỹ Hạnh Đông, Mỹ Hạnh Trung, Tân Phú, Tân Bình, Tân Hội, Nhị Mỹ, Nhị Quý, Thanh Hòa, Phú Quý, Long Khánh.

Sau khi điều chỉnh, huyện Cai Lậy còn lại 29.599,37 ha diện tích tự nhiên và 186.583 nhân khẩu gồm có 16 đơn vị hành chính cấp xã, gồm các xã: Thạnh Lộc, Mỹ Thành Bắc, Phú Cường, Mỹ Thành Nam, Phú Nhuận, Bình Phú, Cẩm Sơn, Phú An, Mỹ Long, Long Tiên, Hiệp Đức, Long Trung, Hội Xuân, Tân Phong, Tam Bình và Ngũ Hiệp.



Cai Lậy (thị xã)

 Cai Lậy là một thị xã nằm ở phía tây tỉnh Tiền GiangViệt Nam.

Địa lý

Thị xã Cai Lậy nằm ở phía tây tỉnh Tiền Giang, cách thành phố Mỹ Tho khoảng 30 km, cách Thành phố Hồ Chí Minh khoảng 90 km, có vị trí địa lý:

Thị xã Cai Lậy có diện tích là 14.018,95 ha và dân số là 123.775 người.

Hành chính

Thị xã Cai Lậy có 16 đơn vị hành chính cấp xã trực thuộc, bao gồm 6 phường: 12345Nhị Mỹ và 10 xã: Long KhánhMỹ Hạnh ĐôngMỹ Hạnh TrungMỹ Phước TâyNhị QuýPhú QuýTân BìnhTân HộiTân PhúThanh Hoà.

Lịch sử

Nguồn gốc địa danh Cai Lậy

Cai Lậy ban đầu chỉ là tên một giồng cát nằm ở ấp Hữu Hòa (ngày nay thuộc phường 1, thị xã Cai Lậy) do ông Cai cơ Ngô Tấn Lễ chỉ huy khai khẩn. Cai cơ Ngô Tấn Lễ là tướng của chúa Nguyễn Ánh, dưới quyền Võ Tánh. Từ Cai Lễ nói trại thành Cai Lậy. Chợ Cai Lậy được lập từ cuối thế kỷ XVIII.

Ban đầu, địa danh Cai Lậy chỉ là tên một ngôi chợ tại thôn Thanh Sơn (sau này là làng Thanh Sơn) thuộc tỉnh Định Tường và sau đó là tỉnh Mỹ Tho. Sau này, thực dân Pháp thành lập quận và đặt tên là quận Cai Lậy do lấy theo tên gọi Cai Lậy vốn là nơi đặt quận lỵ.

Trước năm 2014

Thị xã Cai Lậy trước đây vốn thuộc huyện Cai Lậytỉnh Mỹ Tho và từ năm 1976 thuộc tỉnh Tiền GiangViệt Nam.

Trước năm 2014, thị xã Cai Lậy ngày nay là một phần huyện Cai Lậy. Huyện lỵ huyện Cai Lậy khi đó là thị trấn Cai Lậy.

Ngày 27 tháng 8 năm 2010, Bộ Xây dựng ban hành Quyết định số 792/QĐ-BXD về việc công nhận thị trấn Cai Lậy là đô thị loại IV.[2]

Từ năm 2014 đến nay

Ngày 26 tháng 12 năm 2013Chính phủ Việt Nam ban hành nghị quyết số 130/NQ-CP[3] điều chỉnh địa giới hành chính huyện Cai Lậy để thành lập thị xã Cai Lậy và huyện Cai Lậy còn lại. Nội dung Nghị quyết về việc thành lập thị xã Cai Lậy như sau:

1. Thành lập thị xã Cai Lậy thuộc tỉnh Tiền Giang trên cơ sở điều chỉnh 14.018,95 ha diện tích tự nhiên và 123.775 nhân khẩu của huyện Cai Lậy, bao gồm toàn bộ diện tích tự nhiên và nhân khẩu của thị trấn Cai Lậy và các xã Mỹ Phước Tây, Mỹ Hạnh Đông, Mỹ Hạnh Trung, Tân Phú, Tân Bình, Tân Hội, Nhị Mỹ, Nhị Quý, Thanh Hòa, Phú Quý, Long Khánh.

Thị xã Cai Lậy có 14.018,95 ha diện tích tự nhiên và 123.775 nhân khẩu.

2. Điều chỉnh địa giới hành chính thị trấn Cai Lậy và các xã Nhị Mỹ, Tân Bình để thành lập 6 phường thuộc thị xã Cai Lậy:

  • Thành lập phường 1 thuộc thị xã Cai Lậy trên cơ sở điều chỉnh 68,36 ha diện tích tự nhiên, 10.027 nhân khẩu của thị trấn Cai Lậy; 79,15 ha diện tích tự nhiên, 995 nhân khẩu của xã Tân Bình và 73,02 ha diện tích tự nhiên, 405 nhân khẩu của xã Nhị Mỹ. Phường 1 có 220,53 ha diện tích tự nhiên và 11.427 nhân khẩu.
  • Thành lập phường 2 thuộc thị xã Cai Lậy trên cơ sở điều chỉnh 215,54 ha diện tích tự nhiên, 3.854 nhân khẩu của thị trấn Cai Lậy và 133,65 ha diện tích tự nhiên, 1.562 nhân khẩu của xã Tân Bình. Phường 2 có 349,19 ha diện tích tự nhiên và 5.416 nhân khẩu.
  • Thành lập phường 3 thuộc thị xã Cai Lậy trên cơ sở điều chỉnh 278,19 ha diện tích tự nhiên, 2.778 nhân khẩu của xã Tân Bình và 57,56 ha diện tích tự nhiên, 545 nhân khẩu của xã Nhị Mỹ. Phường 3 có 335,75 ha diện tích tự nhiên và 3.323 nhân khẩu.
  • Thành lập phường 4 thuộc thị xã Cai Lậy trên cơ sở điều chỉnh 85,57 ha diện tích tự nhiên, 4.858 nhân khẩu của thị trấn Cai Lậy và 118,17 ha diện tích tự nhiên, 1.181 nhân khẩu của xã Nhị Mỹ. Phường 4 có 203,74 ha diện tích tự nhiên và 6.039 nhân khẩu.
  • Thành lập phường 5 thuộc thị xã Cai Lậy trên cơ sở điều chỉnh 255,62 ha diện tích tự nhiên và 7.499 nhân khẩu còn lại của thị trấn Cai Lậy. Phường 5 có 255,62 ha diện tích tự nhiên và 7.499 nhân khẩu.
  • Thành lập phường Nhị Mỹ thuộc thị xã Cai Lậy trên cơ sở điều chỉnh 553,84 ha diện tích tự nhiên và 4.586 nhân khẩu còn lại của xã Nhị Mỹ. Phường Nhị Mỹ có 553,84 ha diện tích tự nhiên và 4.586 nhân khẩu.

Sau khi điều chỉnh địa giới hành chính huyện Cai Lậy để thành lập thị xã Cai Lậy và huyện Cai Lậy còn lại; thành lập các phường thuộc thị xã Cai Lậy, thị xã Cai Lậy có 16 đơn vị hành chính cấp xã, gồm các phường: 1, 2, 3, 4, 5, Nhị Mỹ và các xã: Tân Bình, Mỹ Phước Tây, Mỹ Hạnh Đông, Mỹ Hạnh Trung, Tân Phú, Tân Hội, Nhị Quý, Thanh Hòa, Phú Quý, Long Khánh.

Ngày 18 tháng 2 năm 2020, Bộ Xây dựng ban hành Quyết định số 171/QĐ-BXD về việc công nhận thị xã Cai Lậy là đô thị loại III.[1]

Kinh tế

Thị xã Cai Lậy là trung tâm kinh tế, chính trị - xã hội quan trọng của khu vực phía tây tỉnh Tiền Giang, là cực đối trọng kinh tế với thị xã Gò Công.

Thị xã Cai Lậy từ lâu được biết đến là trung tâm mua bán, trao đổi hàng hóa sầm uất của khu vực Đồng Tháp Mười.

Giao thông

Đây cũng là địa phương có dự án Đường cao tốc Trung Lương – Mỹ Thuận – Cần Thơ đi qua đang được xây dựng.

Nguồn: wikipedia



Cai Lậy (huyện)

Cai Lậy là một huyện thuộc tỉnh Tiền GiangViệt Nam.

Địa lý

Huyện Cai Lậy nằm ở phía tây tỉnh Tiền Giang, có vị trí địa lý:

Huyện có 150 tuyến kênh, rạch với tổng chiều dài 427 km.[3]

Hành chính

Huyện Cai Lậy có 16 đơn vị hành chính cấp xã trực thuộc bao gồm 16 xã: Bình Phú (huyện lỵ), Cẩm SơnHiệp ĐứcHội XuânLong TiênLong TrungMỹ LongMỹ Thành BắcMỹ Thành NamNgũ HiệpPhú AnPhú CườngPhú NhuậnTam BìnhTân PhongThạnh Lộc.

Lịch sử

Nguồn gốc địa danh Cai Lậy

Cai Lậy ban đầu chỉ là tên một giồng cát nằm ở ấp Hữu Hòa (ngày nay thuộc phường 1, thị xã Cai Lậy) do ông Cai cơ Ngô Tấn Lễ chỉ huy khai khẩn. Cai cơ Ngô Tấn Lễ là tướng của chúa Nguyễn Ánh, dưới quyền Võ Tánh. Từ Cai Lễ nói trại thành Cai Lậy. Chợ Cai Lậy được lập từ cuối thế kỷ XVIII.

Ban đầu, địa danh Cai Lậy chỉ là tên một ngôi chợ tại thôn Thanh Sơn (sau này là làng Thanh Sơn) thuộc tỉnh Định Tường và sau đó là tỉnh Mỹ Tho. Sau này, thực dân Pháp thành lập quận và đặt tên là quận Cai Lậy do lấy theo tên gọi Cai Lậy vốn là nơi đặt quận lỵ.

Thời phong kiến

Cuối thế kỷ XVII, vùng đất Cai Lậy ngày nay thuộc châu Định Viễn, dinh Long Hồ. Thời các chúa Nguyễn, vùng đất này thuộc dinh Trấn Định, rồi trấn Định Tường và tỉnh Định Tường về sau.

Năm 1808, dưới triều vua Gia Long, vùng đất này được đặt tên là tổng Kiến Lợi rồi sau đó đổi tên là tổng Kiến Đăng.

Năm 1833, ba tổng Phong Hòa, Phong Phú, Phong Thạnh đưa về Kiến Đăng phân huyện.

Năm 1836, tổng Kiến Đăng được đổi thành huyện Kiến Đăng thuộc phủ Kiến An, tỉnh Định Tường. Huyện lỵ đầu tiên đóng tại thôn Mỹ Đức Đông (Cái Thia - Cái Bè), có 2 tổng: Kiến Lợi (nay thuộc vùng Cai Lậy) và Kiến Phong (nay thuộc các vùng Cái BèCao Lãnh).

Năm 1836, huyện Kiến Đăng có 5 tổng: Lợi Trinh 19 thôn, Lợi Trường 22 thôn, Phong Hòa 11 thôn, Phong Phú 17 thôn, Phong Thạnh 11 thôn.

Năm Minh Mạng thứ 19 (1838), dời huyện lỵ đến thôn Mỹ Trang (nay thuộc khu vực trung tâm thị xã Cai Lậy), tu sửa lại thành cũ.

Đến năm 1838, lại cắt ba tổng Phong Hòa, Phong Phú và Phong Thạnh chia làm 4 tổng Phong Hòa, Phong Phú, Phong Thạnh và Phong Nẫm, rồi Kiến Đăng phân huyện đổi thành huyện Kiến Phong, lập thêm phủ Kiến Tường (đóng tại Cao Lãnh) gồm 2 huyện: Kiến Phong (do Kiến Tường kiêm trị) và Kiến Đăng. Bấy giờ, huyện Kiến Đăng có 5 tổng:

  • Tổng Lợi Trường có 13 thôn
  • Tổng Lợi Trinh có 19 thôn.

Đến năm 1841 tách đôi:

  • Tổng Lợi Triêm (Lợi Trinh) có 11 thôn
  • Tổng Lợi Thuận có 4 thôn của tổng Lợi Trinh cũ và 4 làng đồn điền mới lập
  • Tổng Lợi Thạnh gồm nhiều làng đồn điền (lập phía Bắc huyện Cai Lậy, Cái Bè và huyện Tân Phước ngày nay (khoảng từ 8 đến 11 làng), đến năm 1861-1862 thì tan rã).

Như vậy, huyện Kiến Đăng có 5 tổng: Lợi Trinh (11 thôn), Lợi Thuận (13 thôn), Lợi Mỹ (11 thôn), Lợi Trường (13 thôn), Lợi Thạnh (tan rã).

Thời Pháp thuộc

Với Hòa ước Nhâm Tuất (1862), triều đình Huế nhượng hẳn 3 tỉnh miền Đông Nam Kỳ (Gia Định, Biên Hòa và Định Tường) cho thực dân Pháp làm thuộc địa. Chính quyền thực dân Pháp chia 3 tỉnh này thành 13 thành các hạt thanh tra (inspection), do các viên chức Pháp ngạch thanh tra các công việc bản xứ (inspecteur des affaires indigeânes) đứng đầu, nhưng tạm thời vẫn giữ cơ cấu phủ huyện cũ.

Ngày 3 tháng 6 năm 1865, huyện Kiến Đăng đổi thành Hạt Thanh tra Kiến Đăng. Trụ sở hạt Thanh tra Kiến Đăng đặt tại Cai Lậy. Lúc đầu, hạt Thanh tra tạm gọi tên theo tên các phủ huyện cũ, sau mới đổi tên gọi theo địa điểm đóng trụ sở.

Ngày 16 tháng 8 năm 1867, thực dân Pháp thành lập Hạt Thanh tra Cai Lậy do đổi tên từ hạt Thanh tra Kiến Đăng trước đó.

Ngày 5 tháng 12 năm 1868, Hạt Thanh tra Cai Lậy bị giải thể, sáp nhập địa bàn vào hạt Thanh tra Mỹ Tho kể từ ngày 15 tháng 12 năm 1868.

Ngày 20 tháng 10 năm 1869, Hạt Thanh tra Cai Lậy được lập lại.

Ngày 8 tháng 9 năm 1870, vì lý do an ninh nên dời trụ sở tới chợ Cái Bè nên lại đổi tên gọi là hạt Thanh tra Cái Bè.

Ngày 5 tháng 6 năm 1871, Hạt thanh tra Cái Bè giải thể, nhập địa bàn vào hạt Thanh tra Mỹ Tho.

Năm 1904, thực dân Pháp lập quận Cai Lậy thuộc tỉnh Mỹ Tho, gồm có 6 tổng: Lợi Trường (12 làng) Lợi Mỹ (8 làng) Lợi Trinh (15 làng); Lợi Thuận (16 làng); Phong Hòa (11 làng); Phong Phú (10 làng). Tuy nhiên thống kê năm 1902 thì tổng Lợi Trường có 15 làng. Quận lỵ Cai Lậy ban đầu thuộc làng Thanh Sơn (tổng Lợi Trinh), vốn là nơi đặt chợ Cai Lậy. Tuy nhiên, sau này thực dân Pháp hợp nhất hai làng Thanh Sơn và Hòa Sơn thành một làng mới, lấy tên là Thanh Hòa. Kể từ đó, quận lỵ Cai Lậy thuộc địa bàn làng Thanh Hòa.

Ngày 12 tháng 03 năm 1912, tách 3 tổng Lợi Thuận, Phong Hoà, Phong Phú thành lập quận Cái Bè.

Năm 1902, các tổng Lợi Trinh, Lợi Mỹ, Lợi Trường và Lợi Thuận có các làng trực thuộc như sau[4]:

  • Tổng Lợi Trinh gồm 15 làng: Long Phước, Mỹ Hạnh Tây, Mỹ Hạnh Đông, Mỹ Hạnh Trung, Tân Phú, Tân An, Tân Long, Bình Chánh, Tân Hội, Mỹ Tường, Mỹ Trang, Thanh Sơn, Hòa Sơn, Cẩm Sơn, Hòa Thuận;
  • Tổng Lợi Mỹ gồm 8 làng: Trà Tân, Tân Thới, Mỹ Khánh, Mỹ Đông, Mỹ Đông Trung, Mỹ Đông Thượng, Phú Long, Ngũ Hiệp;
  • Tổng Lợi Trường gồm 12 làng: Bình Chánh, Bình Chánh Đông, Bình Chánh Trung, Phú Phong, Kim Sơn, Bàn Long, Long Điền, Mỹ Hậu, Mỹ Phú, Mỹ Quý, Mỹ Quý Đông, Mỹ Quý Tây;
  • Tổng Lợi Thuận gồm 16 làng: Hội Sơn, Xuân Sơn, Tân Đức, Hiệp Hòa, Phú Sơn, An Mỹ, Lợi An, Lợi Thành, Giai Mỹ, Giai Phú, Bình Phú, Phú Hưng, Phú Nhuận, Phú Thuận Đông, Mỹ Thạnh, Mỹ Phú Đông.

Cũng từ năm 1912, tổng Lợi Trường giao ba làng Kim Sơn, Phú Phong và Bàn Long cho tổng Thuận Bình của quận Châu Thành cùng thuộc tỉnh Mỹ Tho.

Ngày 1 tháng 1 năm 1928, quận Cai Lậy nhận thêm tổng Lợi Tường tách ra từ quận Châu Thành và tổng Lợi Thuận tách ra từ quận Cái Bè.

Ngày 1 tháng 1 năm 1934, tổng Lợi Mỹ và tổng Lợi Trường hợp nhất thành tổng Lợi Hoà.

Năm 1939, quận Cai Lậy có 3 tổng là Lợi Hoà, Lợi Trinh, Lợi Thuận.

Thực dân Pháp chủ trương tiết kiệm ngân sách nên từ năm 1905 đến năm 1933 đã có nhiều lần sáp nhập các đơn vị hành chánh cơ sở (làng).

Do vậy, vào năm 1945, nếu so sánh với giai đoạn trước thì tổng số làng trong tỉnh Mỹ Tho nói chung và quận Cai Lậy nói riêng đã giảm.

Sau nhiều lần sáp nhập và thành lập các làng mới, đến cuối năm 1933 quận Cai Lậy có các làng trực thuộc với các tên gọi mới như sau:

  • Tổng Lợi Trinh gồm 9 làng: Mỹ Phước Tây (hợp nhất Long Phước và Mỹ Hạnh Tây), Mỹ Hạnh Đông, Mỹ Hạnh Trung, Tân Phú, Tân Bình (hợp nhất Tân An, Tân Long và Bình Chánh), Tân Hội, Nhị Mỹ (hợp nhất Mỹ Tường và Mỹ Trang), Thanh Hòa (hợp nhất Thanh Sơn và Hòa Sơn), Cẩm Sơn;
  • Tổng Lợi Mỹ gồm 4 làng: Long Khánh (hợp nhất Hòa Thuận, Phú Long và Mỹ Khánh), Long Tiên (hợp nhất Mỹ Đông và Mỹ Đông Thượng), Long Trung (hợp nhất Trà Tân, Tân Thới và Mỹ Đông Trung), Ngũ Hiệp;
  • Tổng Lợi Trường gồm 4 làng: Tam Bình (hợp nhất Bình Chánh, Bình Chánh Đông và Bình Chánh Trung), Mỹ Long (hợp nhất Mỹ Hậu và Long Điền), Phú Quý (hợp nhất Mỹ Phú và Mỹ Quý Tây), Nhị Quý (hợp nhất Mỹ Quý và Mỹ Quý Đông);
  • Tổng Lợi Thuận gồm 8 làng: Hội Sơn, Xuân Sơn, Hiệp Đức (hợp nhất Tân Đức và Hiệp Hòa), Phú An (hợp nhất Phú Sơn và An Mỹ), Mỹ Thành (hợp nhất 4 làng Lợi An, Lợi Thành, Giai Mỹ và Giai Phú), Bình Phú, Phú Nhuận Đông (hợp nhất Phú Hưng, Phú Nhuận và Phú Thuận Đông), Thạnh Phú (hợp nhất Mỹ Thạnh và Mỹ Phú Đông).

Giai đoạn 1956-1976

Việt Nam Cộng hòa

Sau năm 1956, chính quyền Việt Nam Cộng hòa đặt quận Cai Lậy thuộc tỉnh Định Tường, các làng gọi là xã.

Ngày 09 tháng 08 năm 1961, quận Cai Lậy đổi tên thành quận Khiêm Ích, đồng thời chuyển tổng Lợi Thuận (gồm 5 xã: Hội Sơn, Xuân Sơn, Phú An, Hiệp Đức và Mỹ Thành) qua quận Sùng Hiếu, tức quận Cái Bè trước đó.

Ngày 10 tháng 11 năm 1964, quận lấy lại tên cũ Cai Lậy.

Sau năm 1965, các tổng đều bị giải thể. Quận lỵ Cai Lậy đặt tại xã Thanh Hòa.

Kể từ đó cho tới năm 1975, quận Cai Lậy thuộc tỉnh Định Tường do chính quyền Việt Nam Cộng hòa sắp xếp hành chính có 20 xã trực thuộc quận gồm: Bình Phú, Cẩm Sơn, Long Khánh, Long Tiên, Long Trung, Mỹ Hạnh Đông, Mỹ Hạnh Trung, Mỹ Long, Mỹ Phước Tây, Ngũ Hiệp, Nhị Mỹ, Mỹ Quý, Phú Nhuận Đông, Phú Quý, Tam Bình, Tân Bình, Tân Hội, Tân Phú Đông, Thạnh Hòa, Thạnh Phú.

Ngày 12 tháng 7 năm 1974, chính quyền Việt Nam Cộng hòa lập quận mới có tên là quận Hậu Mỹ thuộc tỉnh Định Tường. Lúc này, xã Thạnh Phú thuộc quận Cai Lậy được giao về cho quận Hậu Mỹ quản lý.

Chính quyền Cách mạng

Về phía chính quyền Cách mạng, địa giới hành chính của huyện Cai Lậy thuộc tỉnh Mỹ Tho trong giai đoạn 1956-1975 vẫn được duy trì ổn định, không thay đổi như trước năm 1956. Trong đó các xã Hội Sơn, Mỹ Thành, Phú An, Xuân Sơn, Hiệp Đức vẫn do huyện Cai Lậy quản lý (chính quyền Việt Nam Cộng hòa đặt các xã này thuộc quận Cái Bè, tỉnh Định Tường).

Bên cạnh đó, chính quyền Cách mạng cũng chia xã Mỹ Thành thành hai xã là Mỹ Thành Bắc và Mỹ Thành Nam. Năm 1967, huyện Cai Lậy nhận thêm xã Tân Phong từ huyện Chợ Lách, tỉnh Bến Tre (chính quyền Việt Nam Cộng hòa vẫn đặt xã Tân Phong thuộc quận Chợ Lách, tỉnh Vĩnh Long cho đến năm 1975).

Năm 1971, huyện Cai Lậy chia thành hai huyện là Cai Lậy Bắc và Cai Lậy Nam thuộc tỉnh Mỹ Tho.

Đến năm 1975, hợp nhất lại thành huyện Cai Lậy như cũ:

  • Huyện Cai Lậy Bắc gồm 14 xã: Mỹ Thành Bắc, Mỹ Thành Nam, Bình Phú, Phú Nhuận, Thạnh Phú, Thạnh Hòa, Nhị Mỹ, Nhị Quý, Tân Hội, Tân Phú Đông, Tân Bình, Mỹ Hạnh Đông, Mỹ Hạnh Trung, Mỹ Phước Tây;
  • Huyện Cai Lậy Nam gồm 13 xã: Phú Quý, Long Khánh, Cẩm Sơn, Phú An, Mỹ Long, Long Tiên, Hiệp Đức, Long Trung, Hội Sơn, Xuân Sơn, Tân Phong, Tam Bình, Ngũ Hiệp.

Sau ngày 30 tháng 04 năm 1975, chính quyền quân quản Cộng hòa miền Nam Việt Nam ban đầu vẫn đặt huyện Cai Lậy thuộc tỉnh Mỹ Tho như trước cho đến đầu năm 1976. Huyện lỵ là thị trấn Cai Lậy, được thành lập do tách đất từ các xã Nhị Mỹ và Thanh Hòa. Đồng thời, xã Tân Hòa Tây trực thuộc huyện Cai Lậy cũng được thành lập do tách đất từ các xã Mỹ Hạnh Đông và Mỹ Phước Tây của huyện Cai Lậy hợp nhất một phần đất đai tách từ xã Tân Bình thuộc quận Kiến Bình, tỉnh Kiến Tường trước đó.

Từ năm 1976 đến nay

Tháng 3 năm 1976, Cai Lậy là huyện của tỉnh Tiền Giang cho đến ngày nay, với huyện lỵ là thị trấn Cai Lậy. Huyện Cai Lậy ban đầu gồm 29 đơn vị hành chính là các xã: Bình Phú, Cẩm Sơn, Hiệp Đức, Hội Sơn, Long Khánh, Long Tiên, Long Trung, Mỹ Hạnh Đông, Mỹ Hạnh Trung, Mỹ Long, Mỹ Phước Tây, Mỹ Thành Bắc, Mỹ Thành Nam, Ngũ Hiệp, Nhị Mỹ, Nhị Quý, Phú An, Phú Nhuận, Phú Quý, Tam Bình, Tân Bình, Tân Hòa Tây, Tân Hội, Tân Phong, Tân Phú, Thanh Hòa, Thạnh Phú, Xuân Sơn và thị trấn Cai Lậy.

Ngày 12 tháng 4 năm 1979, Hội đồng Chính phủ ban hành Quyết định số 152-CP[5] về việc chia một số xã thuộc huyện Cai Lậy, tỉnh Tiền Giang như sau:

  • Chia xã Thạnh Phú thành hai xã lấy tên là xã Thạnh Lộc và xã Phú Cường.
  • Hợp nhất xã Hội Sơn và xã Xuân Sơn thành một xã lấy tên là xã Hội Xuân.

Ngày 11 tháng 07 năm 1994Chính phủ Việt Nam ban hành Nghị định số 68-CP[6], theo đó tách một phần diện tích và dân số của huyện Cai Lậy hợp với một phần diện tích và dân số của huyện Châu Thành để thành lập huyện Tân Phước thuộc tỉnh Tiền Giang. Lúc này, xã Tân Hòa Tây được giao về cho huyện Tân Phước quản lý. Sau khi nhập vào huyện Tân Phước, xã Tân Hòa Tây được chia thành ba xã mới là Tân Hòa Tây, Thạnh Hòa và Thạnh Tân. Đặc biệt, từ năm 1994 đến nay, địa bàn hai xã Thạnh Hòa và Thạnh Tân nằm trong một phần đất đai xã Tân Bình thuộc quận Kiến Bình, tỉnh Kiến Tường trước năm 1975; riêng địa bàn xã Tân Hòa Tây sau khi chia tách thì vẫn nằm trong phần đất đai thuộc quận Cai Lậy, tỉnh Định Tường (phía chính quyền Cách mạng lúc bấy giờ gọi là huyện Cai Lậy thuộc tỉnh Mỹ Tho) như trước năm 1975.

Sau khi thành lập huyện Tân Phước, huyện Cai Lậy còn lại diện tích tự nhiên 40.893,66 hécta; nhân khẩu 314.243; gồm 28 đơn vị hành chính là các xã Ngũ Hiệp, Tam Bình, Tân Phong, Long Trung, Hội Xuân, Hiệp Đức, Long Tiên, Mỹ Long, Phú Quý, Long Khánh, Cẩm Sơn, Phú An, Nhị Quý, Nhị Mỹ, Thanh Hoà, Bình Phú, Phú Nhuận, Tân Bình, Tân Hội, Tân Phú, Mỹ Hạnh Trung, Mỹ Hạnh Đông, Mỹ Phước Tây, Phú Cường, Thạnh Lộc, Mỹ Thành Bắc, Mỹ Thành Nam và thị trấn Cai Lậy.

Ngày 26 tháng 12 năm 2013Chính phủ Việt Nam ban hành Nghị quyết số 130/NQ-CP[7] về việc điều chỉnh địa giới hành chính huyện Cai Lậy để thành lập thị xã Cai Lậy và huyện Cai Lậy còn lại. Theo đó, thành lập thị xã Cai Lậy thuộc tỉnh Tiền Giang trên cơ sở điều chỉnh 14.018,95 ha diện tích tự nhiên và 123.775 nhân khẩu của huyện Cai Lậy, bao gồm toàn bộ diện tích tự nhiên và nhân khẩu của thị trấn Cai Lậy và các xã Mỹ Phước Tây, Mỹ Hạnh Đông, Mỹ Hạnh Trung, Tân Phú, Tân Bình, Tân Hội, Nhị Mỹ, Nhị Quý, Thanh Hòa, Phú Quý, Long Khánh.

Sau khi điều chỉnh, huyện Cai Lậy còn lại 29.599,37 ha diện tích tự nhiên và 186.583 nhân khẩu gồm có 16 đơn vị hành chính cấp xã, gồm các xã: Thạnh Lộc, Mỹ Thành Bắc, Phú Cường, Mỹ Thành Nam, Phú Nhuận, Bình Phú, Cẩm Sơn, Phú An, Mỹ Long, Long Tiên, Hiệp Đức, Long Trung, Hội Xuân, Tân Phong, Tam Bình và Ngũ Hiệp.

Kinh tế

Kinh tế chủ yếu là nông nghiệp, năm 2009, diện tích trồng lúa của huyện đạt gần 49.500 ha, năng suất bình quân đạt 57 tạ/ha, sản lượng 282.141 tấn[8]. Trong 6 tháng đầu năm 2010, tổng diện tích gieo sạ 2 vụ đông xuân và hè thu sớm là 32.615 ha, sản lượng đạt gần 202 ngàn tấn, đồng thơi tiếp tục mở rộng diện tích sản xuất lúa theo tiêu chuẩn Global GAP ở 2 xã Mỹ Thành Nam và Mỹ Thành Bắc, nâng tổng số hộ tham gia đến nay là 101 hộ với diện tích là 95,5 ha.

Ngoài cây lúa, Cai Lậy còn có một vùng rộng lớn những vườn cây ăn trái quanh năm xanh tốt với các loại trái cây đặc sản của Nam Bộ như: camquýtchôm chôm, nhãn... đặc biệt là giống nhãn giồng Nhị Quý nổi tiếng trên thị trường từ hơn nửa thế kỷ qua.

Lĩnh vực công nghiệp và tiểu thủ công nghiệp của huyện tập trung vào phục vụ nông nghiệp - nông dân - nông thôn, trong đó nổi bật là xay xát, chế biến lương thực, thực phẩm xuất khẩu, cơ khí máy móc nông ngư cơ, làng nghề thủ công...

Ngành thương mại và dịch vụ của huyện khá phát triển do nằm trên tuyến quốc lộ 1A.

Văn hóa - xã hội

Cùng với phát triển kinh tế, huyện Cai Lậy đang từng bước đầu tư xây dựng cơ sở hạ tầng. Giai đoạn năm 2008 đên 2009, toàn huyện đã đầu tư xây dựng được 258 công trinh. Ngoài ra, bằng nguồn vốn ngân sách đầu tư của tỉnh và huyện đã xây dựng được 15 tuyến đường liên xã và xây dựng mới 95 cầu các loại.

Ngành giáo dục huyện Cai Lậy không ngừng phát triển về số lượng và chất lượng, trang thiết bị, đồ dùng dạy học được đầu tư đúng mức, đáp ứng yêu cầu nâng cao chất lượng giáo dục ở địa phương.

Giao thông

Đây cũng là địa phương có dự án Đường cao tốc Trung Lương – Mỹ Thuận – Cần Thơ đi qua đang được xây dựng.

Nguồn: wikipedia